Lý thuyết Dow là gì? 6 nguyên lý cơ bản của lý thuyết Dow. Nền tảng phân tích kỹ thuật nâng cao

Nếu bạn dự định đi tìm nguồn gốc của phân tích kỹ thuật trong đầu tư forex chắc chắn kết quả cuối cùng bạn nhận được chính là lý thuyết Dow.

Ra đời hơn 100 năm, không phải vô cớ mà lý thuyết Dow được xem là nền tảng của phân tích kỹ thuật trong thị trường tài chính nói chung và trong forex nói riêng.

Chính vì thế, cho dù có học bất cứ trường phái phân tích kỹ thuật nào đi chăng nữa bước đầu tiên bạn phải hiểu thật kỹ lý thuyết Dow. Vậy lý thuyết Dow là gì? Tại sao chúng lại quan trọng đến như vậy?

1. Lý thuyết Dow là gì?

Lý thuyết Dow là cơ sở đầu tiên cho mọi trường phái phân tích kĩ thuật trên các thị trường như chứng khoán hay coin tiền ảo.

Nhà sáng lập học thuyết này chính là ông Charles H.Dow, đồng thời là đồng sáng lập nên tờ Wall Street Journal và chỉ số Dow – Jones (cùng với cộng sự Jones) nổi tiếng.

2. Lịch sử hình thành lý thuyết Dow

Cha đẻ của lý thuyết Dow là ông Charles H. Dow, các nguyên lý cơ bản của lý thuyết này được hình thành thông qua 1 loạt các bài xã luận do ông viết đăng tải trên tờ Wall Street Journal.

Những bài viết này thể hiện niềm tin của Dow về cách phản ứng của thị trường chứng khoán cũng như cách thức đo lường sức khỏe thị trường tài chính để tìm kiếm lợi nhuận.

Tới năm 1902, Charles H. Dow qua đời 1 cách đột ngột, khiến cho toàn bộ những tài liệu vẫn trong trạng thái dang dở. Nên 1 trong số các cộng sự của Dow, tiêu biểu là William P. Hamilton cũng chính là người thay ông giữ chức biên tập tờ Wall Street Journal đã tiếp tục nghiên cứu,hoàn thiện và cho ra đời lý thuyết Dow như ngày hôm nay.

Dow tin rằng thị trường chứng khoán nói chung là thước đo đáng tin cận cho điều kiện tổng thể của 1 nền kinh tế. Và bằng cách phân tích tổng thể người ta có thể đánh giá chính xác các điều kiện đó cũng như xác định hướng xu hướng chính của thị trường và hướng phát triển của từng cổ phiếu riêng lẻ.

Để làm được vậy Dow chủ yếu dựa vào 2 chỉ số gồm: Chỉ số công nghiệp Dow Jones và Chỉ số đường sắt Dow Jones (nay là Chỉ số vận tải), được Dow biên soạn đăng tải trên Wall Street Journal. Ông cho rằng chúng có thể phản ánh chính xác các điều kiện kinh doanh vì chúng bao gồm hai phân khúc kinh tế chính: công nghiệp và đường sắt (vận tải).

Dù các chỉ số này đã thay đổi trong suốt 100 năm qua, nhưng lý thuyết vẫn áp dụng và trở thành 1 trong những lý thuyết cơ bản nhất cho giao dịch ngoại hối forex cũng như cho thị trường tài chính hiện đại.

Toàn bộ lý thuyết phân tích kỹ thuật mà chúng ta biết tới như ngày hôm nay đều bắt nguồn từ lý thuyết Dow. Vì thế, nếu muốn hiểu rõ phân tích kỹ thuật trong forex bạn cần biết 6 nguyên lý cơ bản của thuyết Dow.

3. Các giả thuyết Dow

3.1. Không ai có thể thao túng xu hướng chính của thị trường

Một khi xu hướng chính đã được thiết lập thì chẳng ai có thể thay đổi được xu hướng này cho đến khi thị trường tự chuyển xu hướng chính của nó theo hướng ngược lại.

Giả sử như xu hướng tăng của thị trường đã được xác lập là sẽ tăng liên tục. Những ai thao túng giá cả thì chỉ có thể làm giá giảm trong một thời gian ngắn rồi nó lại tiếp tục đi trở lại xu hướng chính của thị trường là xu hướng tăng.

Việc bẻ gãy xu hướng chính là điều thật khó khăn và có lẽ chẳng ai muốn làm điều đó để gánh lấy thiệt hại. Những kẻ thao túng giá chỉ thao túng giá trong thời gian ngắn để đạt được mục đích rồi thị trường lại quay về bản chất vỗn dĩ của nó.

Thị trường cứ đi theo xu hướng chính cho đến khi nó rã rời mỏi mệt với cái xu hướng đó tự nó sẽ đổi chiều để đi theo xu hướng khác.

3.2. Mọi thứ đều được phản ánh vào giá cả

Thị trường phản ánh được mọi thông tin. Mọi thứ đều phản ánh vào thị trường thông qua giá cả.

Giá cả là con số chung phản ánh được sự kỳ vọng, sự sợ hãi và mong chờ của tất cả những đối tượng tham gia thị trường. Tất cả mọi thứ sẽ phản ánh lên giá cả.

Thay đổi lãi suất, tăng trưởng hay sụt giảm doanh thu lợi nhuận, bầu cử tổng thống… có thể thay đổi được giá cả và ảnh hưởng được lên giá cả nhưng chỉ trong thời gian ngắn. Còn xu hướng chính của giá cả vẫn chẳng thể bị ảnh hưởng.

Ví dụ: xu hướng chính là tăng, nếu có thông tin xấu đột ngột xuất hiện thì giá cả sẽ giảm để phản ứng thông tin xấu đó, sau đó thị trường lại trở về với xu hướng chính là tăng và sẽ vượt lên khỏi giá mà khi thông tin xấu đó xuất hiện.

Có khi thông tin tốt lại không thể làm giá cổ phiếu tăng được bởi vì giá đã tăng trước rồi.

Cũng tương tự như thế khi xu hướng chính đã trở nên mệt mỏi và muốn đổi xu hướng chính theo hướng ngược lại (như đổi tăng thành giảm, giảm thành tăng) thì dù có thêm bao nhiêu thông tin tốt đi chăng nữa, xu hướng chính tăng vẫn mệt mỏi và chuẩn bị bước vào xu hướng chính giảm. Hoặc dù có thêm bao nhiêu thông tin xấu đi chăng nữa, xu hướng chính giảm cũng đã giảm quá nhiều và chuẩn bị bước vào xu hướng chính tăng.

3.3. Lý thuyết Dow không phải công cụ hoàn hảo

Lý thuyết Dow đưa ra những nguyên lí và bản chất của thị trường và giúp bạn loại bỏ được những tâm lí cá nhân khi tham gia thị trường để có những nhận định đúng về thị trường.

Tuy nhiên, khi dựa vào lý thuyết Dow bạn phải phân tích theo tiêu chí khách quan, đừng dựa trên những mong muốn của chính mình mà phân tích thì sẽ làm phân tích của bạn lệch lạc.

Lúc đấy phân tích của bạn bị lệch lạc, chứ không phải là lý thuyết Dow đã đưa ra những điều không đúng. Chính vì thế mới nói lý thuyết Dow không hoàn hảo. Cũng là dựa trên lý thuyết Dow nhưng những phân tích của những người khác nhau lại có thể khác nhau.

Lý thuyết Dow chỉ giúp cho bạn có một cái nhìn ở xu hướng chính. Ở những xu hướng thứ cấp và ngắn hạn lý thuyết Dow không thể áp dụng. Vì trong xu hướng thứ cấp và xu hướng ngắn hạn giá cả thị trường có thể bị theo túng dễ dàng.

Chúng ta vừa mới điểm qua 3 giả thuyết của lý thuyết Dow.

4. Xu hướng thị trường

Dow and Hamilton đưa ra 3 xu hướng giá như sau: xu hướng chính, xu hướng thứ cấp và xu hướng ngắn hạn (có người gọi là xu hướng chính, xu hướng thứ cấp và xu hướng ngày).

Xu hướng chính kéo dài vài tháng đến vài năm. Xu hướng trung hạn kéo dài vài tuần đến vài tháng. Xu hướng ngắn hạn kéo dài vài giờ cho đến vài ngày hoặc một hai tuần.

Kienthuctrade.net xin kèm thêm lý thuyết sóng Elliott để giải thích rõ hơn về xu hướng thị trường như sau: Xu hướng thị trường gồm các xu hướng sau: xu hướng chính, xu hướng thứ cấp (xu hướng dài hạn, trung hạn và ngắn hạn hay còn gọi là xu hướng ngày tức là những xu hướng diễn ra trong vài giờ cho đến một hai tuần, loại xu hướng này chỉ có thể nhìn trên forex, cryptocurrency nên ở thị trường chứng khoán chúng ta tạm bỏ qua).

Vậy xu hướng chính sẽ bao gồm 3 hoặc 5 xu hướng dài hạn, xu hướng dài hạn sẽ bao gồm 3 hoặc 5 xu hướng trung hạn và xu hướng trung hạn sẽ bao gồm 3 hoặc 5 xu hướng ngắn hạn.

4.1. Xu hướng chính

Xu hướng chính là những xu hướng lớn của thị trường và có thể tồn tại qua nhiều tháng hoặc nhiều năm.

Những xu hướng này có khi là xu hướng tăng hoặc xu hướng giảm. Một xu hướng một khi được thiết lập nó sẽ kéo dài cho đến khi xu hướng ngược lại được xác lập. Tức là xu hướng tăng sẽ kéo dài cho đến khi xu hướng giảm xuất hiện. Thời gian của một xu hướng thì không có một nguyên tắc bắt buộc là phải bao lâu.

Mặc dù mọi người có thể dự đoán tương đối nhưng chính xác thì chẳng ai biết được bao giờ và khoảng nào thì xu hướng chính kết thúc. Có khi rất ngắn và có khi rất dài. Nên chúng ta đừng quan trọng độ tăng giảm và độ kéo dài bao lâu của một xu hướng. Vì không có nhất định xu hướng tăng phải tối đa hay tối thiểu bao lâu hoặc bao xa.

4.2. Xu hướng thứ cấp

Xu hướng thứ cấp là những xu hướng nằm trong lòng xu hướng chính. Trong xu hướng chínaAh tăng sẽ có những xu hướng thứ cấp tăng và giảm nằm trong lòng nó.

Trong xu hướng chính giảm sẽ có những xu hướng thứ cấp tăng và giảm nằm trong lòng nó. Điều đó có nghĩa là sẽ có những xu hướng thứ cấp ngược hướng với xu hướng chính.

Để hiểu thêm điều này, chúng ta nghiên cứu thêm lý thuyết sóng Elliot sẽ nắm rất rõ điều này. Sóng Elliot cũng phát triển dựa trên lý thuyết Dow và phát triển thêm. Xu hướng thứ cấp thì khó dự đoán hơn xu hướng chính.

Trong 1 xu hướng thị trường chia ra 2 xu hướng chính: đó là xu hướng tăng chính hoặc xu hướng giảm chính (mỗi xu hướng có 3 giai đoạn).

4.3. Các giai đoạn của xu hướng tăng chính

Giai đoạn 1 của xu hướng tăng chính là giai đoạn tích lũy: Giai đoạn đầu của xu hướng tăng thì khó có thể nhận ra đâu là đã bắt đầu xu hướng tăng chưa hay vẫn còn ở trong xu hướng giảm trước đó.

Tâm lí tiêu cực bi quan của xu hướng giảm chính vẫn tiếp tục lan và thống trị luôn ở giai đoạn bắt đầu xu hướng tăng.

Đây là giai đoạn thị trường giao dịch ít ỏi, tin tức thì xấu và giá trị của cổ phiếu thường thấp kỷ lục.

Tuy nhiên, giai đoạn này dòng tiền thông minh bắt đầu tích lũy cổ phiếu. Những người kiên nhẫn chấp nhận mua vào đầu tư dài hạn. Cổ phiếu thì rẻ, nhưng chẳng ai muốn sở hữu chúng. Mùa hè năm 1974 Warren Buffet từng nói đây là giai đoạn những ai mua cổ phiếu sẽ trở nên giàu có. Đa số đã nghĩ ông điên nên mới mua lúc này.

Trong giai đoạn đầu của xu hướng tăng chính, cổ phiếu bắt đầu tìm thấy được đáy và âm thầm xác nhận đáy.

Khi thị trường bắt đầu tăng, có nhiều nghi ngờ và chưa tin là thị trường đã và đang khởi động tăng. Sau khi có một đợt sóng tăng và bắt đầu giảm lại, những kẻ nghi ngờ xuất hiện và cho rằng xu hướng giảm vẫn chưa kết thúc đâu.

Ngay lúc này đây sẽ có những nhà phân tích từ tốn đưa ra nhận định bước sóng giảm này chỉ là xu hướng giảm thứ cấp 2, và xu hướng tăng vừa qua là xu hướng tăng thứ cấp 1 và cho biết thị trường đã khởi động tăng xu hướng chính và cụ thể được xong 1 bước sóng tăng thứ cấp và đây là bước sóng giảm 2 thứ cấp. Nếu đây là sóng giảm 2 thứ cấp thì đáy sóng giảm 2 sẽ cao hơn đáy trước đó.

Lấy ví dụ như hình trên: Thị trường âm thầm tạo đáy sóng giảm 2 cao hơn đáy trước, và đợt sóng tăng thứ cấp 3 lại bắt đầu và sau đó vượt lên khỏi đỉnh sóng tăng thứ cấp 1, mọi người bắt đầu nhận ra đợt sóng tăng 3 này và xu hướng tăng thứ cấp bắt đầu được mọi người nhìn thấy rõ nét.

Điều này cho thấy đến khi mọi người đều thừa nhận xu hướng giảm trước kết thúc thì thị trường đã đi xong 2 sóng thứ cấp tăng 1 lần, giảm 2 lần và đang đi được nửa đường xu hướng thứ cấp tăng 3.

Do vậy khi mọi người nhận ra được xu hướng chính mới bắt đầu thì thị trường đã đi một quảng khá xa. Chúng ta sẽ nhìn nhận rõ hơn khi tìm hiểu về lý thuyết sóng Elliott.

Giai đoạn 2 của xu hướng tăng chính (giai đoạn tăng mạnh): Giai đoạn 2 của giai đoạn xu hướng tăng chính thường là dài nhất, và giá tăng nhiều nhất. Giai đoạn này được đánh dấu bằng cải thiện trong các doanh nghiệp, giá cổ phiếu tăng. Lợi nhuận tăng và niềm tin tràn đầy. Giai đoạn này xem như là giai đoạn dễ kiếm tiền và những người kinh doanh theo xu hướng cũng gia nhập thị trường.

Sau khi đã trải qua một giai đoạn dài đầy ức chế ở trạng thái tích lũy, khi nó có những dấu hiệu tích cực và khả quan một cách thực lực thì các nhà đầu tư bắt đầu mua vào và mua với một số lượng cổ phiếu ngày một lớn dần lên, đẩy giá cố phiếu đi lên nhanh chóng. Những người mà trước đó bị “nhỡ tàu” thì bây giờ cũng không thể chịu nổi khi là người đứng ngoài cuộc. Họ bắt đầu đổ tiền vào mua theo, và mua với số lượng lớn.

Những người chưa từng đầu tư chứng khoán bao giờ cũng không thể kiềm chế được sức hấp dẫn của lơi nhuận. Họ cũng đổ tiền vào mua theo!

Giai đoạn 3 của xu hướng tăng chính (giai đoạn cao trào thái quá):  Giai đoạn 3 của xu hướng tăng chính được đánh giá bằng việc tích lũy thái quá và xuất hiện áp lực lạm phát.

Trong suốt giai đoạn 3 này, cả cộng đồng dường như đã tham gia cả vào thị trường, giá cả đã tăng quá mức và niềm tin vào thị trường nhiều đến mức kinh ngạc.

Khi mà ngay cả bà hàng tôm hàng cá, anh nông dân cũng tư vấn nhau nghe về chứng khoán thì đỉnh xu hướng chính đã sắp sửa có rồi đấy. Tuy nhiên, cũng trong giai đoạn này thì có một bộ phận nhà đầu tư không nhỏ mà trước đó đã tích lũy được một số lượng cổ phiếu lớn rồi bây giờ bắt đầu manh nha phân phối dần. Một số khác có sự nghi ngờ đà tăng của thị trường và đã chuẩn bị tâm lý bán.

Như một tất yếu, Lý thuyết Dow cho rằng sau giai đoạn cao trào quá mức sẽ là giai đoạn phân phối, rồi đến giai đoạn giảm mạnh và giai đoạn hoảng loạn như đã đề cập ở trên nên mình không nói thêm ở đây nữa.

4.4. Các giai đoạn xu hướng giảm chính.

Giai đoạn 1 của xu hướng giảm giá chính (giai đoạn phân phối): Giống như giai đoạn một của xu hướng tăng giá, giai đoạn một của xu hướng giảm giá thì đi ngược lại. Đây là giai đoạn phân phối.

Dấu hiệu phân phối đánh dấu cho bắt đầu xu hướng giảm. Cộng đồng và mọi người vẫn còn tham gia vào thị trường trong giai đoạn này và vẫn hồ hỡi mua vào.

Ít có tin tức nào cho biết thị trường sắp sửa bước vào xu hướng giảm thật sự và điều kiện kinh doanh chung dĩ nhiên vẫn cảm thấy tốt. Tuy nhiên, giá cổ phiếu bắt đầu giảm một tí và sự giảm giá bắt đầu chính thức diễn ra.

Khi này, dòng tiền thông minh bắt đầu nhận ra rằng điều kiện mua bán kinh doanh bây giờ không còn dễ và thoải mái như mọi người đã nghĩ, và những dòng tiền thông minh này bắt đầu bán cổ phiếu và rút tiền ra khỏi thị trường dần.

Trong khi thị trường giảm giá, người ta vẫn chưa tin rằng xu hướng giảm giá đã bắt đầu và mọi người vẫn cho là xu hướng tăng giá chính vẫn còn. Sau khi giảm kha khá, thì có sự tăng hồi trở lại.

Sự tăng hồi này nhanh và mạnh. Thật ra đây chỉ là sóng tăng thứ cấp nằm trong lòng xu hướng giảm chính. Thế mà mọi người vẫn nghĩ là xu hướng chính vẫn còn và sẽ tăng ngày mạnh mẽ hơn.

Tuy nhiên sự tăng hồi lại này vẫn không vượt qua được đỉnh cao cũ. Đỉnh hồi lần này thấp hơn và bắt đầu quay ngược lại giảm tiếp và giảm sâu hơn lần giảm trước. Lúc này mọi người mới nhận ra xu hướng giảm nhưng xu hướng giảm thật sự đã đạt đỉnh và bắt đầu giảm trước đó.

Giai đoạn 2 của xu hướng giảm giá chính (giai đoạn giảm mạnh): như đoạn 2 của xu hướng tăng giá chính, xu hướng này thì ngược lại. Giai đoạn này giá sẽ giảm mạnh và điều kiện kinh doanh cũng giảm. Lợi nhuận giảm, doanh thu giảm. Do doanh nghiệp làm ăn khó khăn hơn, cắt lỗ bắt đầu xảy ra và rơi tự do.

Giai đoạn 3 của xu hướng giảm giá chính (giai đoạn đau khổ): Ở giai đoạn 3 này, tất cả mọi hy vọng đã tiêu tan và giá các đồng coin đã giảm rất nhiều. Tin tức thì luôn luôn xấu, nền kinh tế thì ảm đạm và chẳng tìm ra người mua. Thị trường vẫn tiếp tục giảm cho đến khi những tin xấu đã được đưa hết vào giá.

Giá trị bây giờ rất thấp, nhưng mọi người vẫn tiếp tục bán ra và mọi người vẫn tìm đường để bán ra và thoát khỏi thị trường cho bằng được. Một khi cổ phiếu đã phản ảnh hết cái xấu thì giai đoạn này xem như kết thúc và chuẩn bị chờ đón xu hướng tăng chính.

5. Cách xác định xu hướng chính

Bước đầu tiên trong việc xác định xu hướng chính là xác định các xu hướng của từng chỉ số riêng rẻ. Điều này có nghĩa là chúng ta đi xác định xu hướng chính của các chỉ số như VNindex, HNXindex, thậm chí Dow Jones, Nikkei,…. Nếu tất cả các chỉ số riêng rẻ này đều nói lên cùng một hướng xu hướng chính giống nhau thì xu hướng chính đúng là như thế.

Nếu tất cả đều cho thấy xu hướng chính đổi chiều, thì xu hướng chính thật sự đã đổi chiều. Chúng ta dùng đỉnh và đáy để phân tích tìm ra xu hướng chính cho từng chỉ số riêng rẻ. Nếu chỉ 1 xu hướng chính XYZ báo đảo chiều thì có thể xu hướng chính trước vẫn còn giữ vững và XYZ sẽ sớm quay trở lại xu hướng chính.

Hoặc xu hướng XYZ báo đảo chiều sớm và đợi các xu hướng của các chỉ số khác cũng khẳng định đảo chiều thì lúc này mới thật sự đảo chiều xu hướng trên tất cả các chỉ số thị trường. Xu hướng chính tăng thì các đỉnh và đáy sau cao hơn đỉnh và đáy trước. Xu hướng chính giảm thì các đỉnh và đáy sau thấp hơn đỉnh và đáy trước.

Một khi xu hướng đã được xác định, nó sẽ giữ vững cho đến khi xu hướng ngược lại được xác định. Một xu hướng chính giảm vẫn được giữ vững là xu hướng chính giảm cho đến khi xu hướng chính tăng được xác lập. Cách xác định xu hướng chính tăng giảm mời các bạn xem hình bên dưới.

5.1. Các chỉ số phải đồng điệu

Các chỉ số thị trường phải đồng điệu với nhau thì mới xác nhận được xu hướng: Ví dụ như Ethereum xác nhận xu hướng chính chuyển từ giảm sang tăng.

Nhưng xu hướng chính Bitcoin vẫn chưa chuyển từ giảm sang tăng thì xem như xu hướng chính của Ethereum vẫn ở xu hướng chính là giảm. Dựa vào sự đồng điệu, chúng ta biết được đâu là xu hướng chính đã được đổi hay vẫn còn ở xu hướng cũ.

Chúng ta sẽ lấy ví dụ dễ hiểu hơn: Theo lý thuyết Dow thì sẽ thấy Bitcoin và Ethereum luôn đồng điệu, cùng lên, cùng giảm, cùng kết thúc sóng, cùng bắt đầu sóng mới ở các con sóng chính.

Đôi khi cũng có sự lệch về thời gian bắt đầu và kết thúc sóng ở những con sóng thứ cấp như sóng dài hạn, trung hạn và ngắn hạn. Thường Bitcoin sẽ đi sớm hơn Ethereum một tí. Nếu cả hai cùng đồng điệu, thì có thể khẳng định việc bắt đầu và kết thúc xu hướng.

Mở rộng ra thì Bitcoin và Ethereum phải cùng xu hướng chính với các chỉ số trung bình của các thị trường khác trên thế giới. Cùng xu hướng chính, và ở các xu hướng thứ cấp như ở các bước sóng dài hạn, trung hạn và ngắn hạn có thể có chút lệch pha trong một mức độ nào đó.

Chính vì thế việc phân tích các sóng của các thị trường khác trên thế giới cũng như việc so giữa Bitcoin, Ethereum  sẽ đưa ta một cái nhìn tổng quát để từ đó đi đến phân tích chi tiết dễ dàng hơn.

5.2. Khối lượng

Bằng việc nhìn khối lượng, chúng ta có thể đoán biết được xu hướng chính.

  • Ở xu hướng chính tăng: Khối lượng sẽ tăng khi giá tăng theo xu hướng chính. Trong thị trường tăng, khối lượng giao dịch sẽ ngày một nhiều hơn, và sẽ bị giảm lại vào giai đoạn điều chỉnh.Trong giai đoạn điều chỉnh của xu hướng chính tăng thì khối lượng sẽ giảm và người tham gia thị trường cũng giảm. Trong giai đoạn điều chỉnh thì thị trường cũng mờ mịt và ảm đạm.
  • Ở xu hướng chính giảm: Mỗi khi thị trường hồi lại thì khối lượng thường giảm. Khi thị trường lại tiếp tục giảm thì khối lượng tăng trở lại. Khi thị trường hồi lại thì người tham gia thị trường cũng ít lại.

Mình đưa ra một ví dụ về trường hợp khối lượng, ở đây không phải là xu hướng chính giảm mà chỉ là xu hướng trung hạn giảm nhưng vấn đề khối lượng cũng nói lên được ở đây. Khi thị trường giảm khối lượng lại tăng, khi thị trường tăng khối lượng lại giảm, điều này báo hiệu nguy cơ đảo chiều sang giảm hoặc đang trong xu hướng giảm.

5.3. Đường phạm vi mua bán

Có những đường ngang hình thành nên phạm vi mua bán. Trong phạm vi mua bán này cho thấy các chỉ số đi Sideways (đi ngang) trong một khoảng thời gian nhất định.

Và khi đấy chúng ta có thể vẽ ra được những đường ngang đó bằng cách nối các đỉnh và các đáy. Những phạm vi mua bán như thế không cho biết rõ ràng là tích lũy hay phân phối, nhưng đến khi giá thật sự vượt lên hoặc vượt xuống khỏi phạm vi mua bán.

Nếu vượt lên, thì phạm vi mua bán đó là tích lũy. Nếu vượt xuống thì phạm vi mua bán đó là phân phối. Trong vùng phạm vi mua bán thì không thể nhận định được tích cực hay tiêu cực cho đến khi phá vỡ để vượt khỏi phạm vi mua bán đó.

6. 6 nguyên lý cơ bản của lý thuyết Dow

Nguyên lý số 1: Thị trường phản ánh tất cả

Tiền đề cơ bản đầu tiên của lý thuyết Dow cho thấy tất cả thông tin – từ quá khứ, hiện tại, thậm chí là tương lai – đều gây ảnh hưởng tới thị trường, được phản ánh trong giá của cổ phiếu và chỉ số.

Thông tin mà Dow nói tới đây bao gồm tất cả mọi thứ từ cảm xúc nhà đầu tư cho đến lạm phát, dữ liệu lãi suất… Điều duy nhất bị loại trừ là các thông tin không thể biết trước như động đất, sóng thần hay khủng bố… Tuy nhiên, ngay sau đó những rủi ro của sự kiện này cũng được định giá vào thị trường.

Cần lưu ý, theo Dow, thông tin không giúp nhà giao dịch hoặc chính bản thận thị trường biết được tất cả mọi thứ, mà chỉ dùng để dự đoán các sự kiện sẽ xảy ra trong tương lai.

Ngay cả các yếu tố – đã xảy ra, sắp xảy ra và có thể xảy ra – sẽ được định giá vào thị trường. Khi mọi thứ thay đổi, thị trường buộc phải điều chỉnh cùng với giá cả để phản ánh theo những thông tin thay đổi đó.

Ý tưởng này cũng từng xuất hiện trong công trình của Eugene Fama ra đời năm 1960, có tên gọi giả thuyết thị trường hiệu quả. Tuy nhiên, lý thuyết Dow khác biệt ở chỗ nó được sử dụng để dự đoán xu hướng trong tương lai.

Không những vậy, thị trường phản ánh tất cả mọi thứ, thực tế không phải là điều mới mẻ với  nhà giao dịch, vì chúng luôn được sử dụng trong lĩnh vực tài chính. Rất nhiều trader chỉ cần nhìn vào biến động giá, mà không cần nhìn vào các yếu tố khác như chỉ báo chẳng hạn cũng có thể xác định được xu thế thị trường.

Giống như phân tích kỹ thuật chính thống, lý thuyết Dow chủ yếu tập trung vào giá cả. Tuy nhiên, khác ở chỗ lý thuyết Dow liên quan đến biến động toàn bộ thị trường hơn là chỉ thu hẹp trong thị trường chứng khoán.

Ví dụ, người theo lý thuyết Dow sẽ xem xét biến động giá theo các chỉ báo nằm trong xu hướng chính. Một khi họ có ý tưởng về xu hướng trên thị trường, họ sẽ đưa ra quyết định đầu tư. Nếu xu thế chính là xu hướng tăng, thì nhà đầu tư sẽ mua giao dịch cổ phiếu riêng lẻ với mức định giá hợp lý.

Nguyên tắc thứ 2: Ba xu thế của thị trường

Trước khi đi vào chi tiết cụ thể phân tích xu thế trong lý thuyết Dow, chúng ta cần hiểu rõ xu thế là gì.

Điều cần lưu ý đầu tiên là mặc dù thị trường có xu thế luôn di chuyển theo hướng nhất định, nhưng nó không bao giờ đi theo một đường thẳng. Mà sẽ tăng tới 1 mức nào đó tạo thành đỉnh xu hướng, rồi sau đó sẽ giảm dần tạo thành đáy của 1 xu hướng. Tất nhiên dù có tăng hay giảm chúng vẫn sẽ di chuyển theo 1 hướng nhất định.

Ba xu thế của thị trường gồm: xu thế chính (xu thế cấp 1), xu thế phụ (xu thế cấp 2) và xu thế nhỏ.

Xu thế cấp 1 trong lý thuyết Dow

Nếu xu hướng chình là xu hướng tăng thì giá sẽ liên tiếp được phá vỡ bởi hàng loạt các tập hợp giá, tất nhiên tập hợp này sẽ bao gồm cả đỉnh và đáy. Thị trường muốn xác nhận đang ở trong xu thế tăng, thì đỉnh sau phải luôn cao hơn đỉnh trước (HH) và đáy sau phải luôn cao hơn đáy trước (HL).

                       Xu thế chính tăng sẽ tạo các đỉnh cao hơn và đáy cao hơn.

Trong khi đó, 1 xu thế giảm hình thành đồng nghĩa sẽ có nhiều đợt bán tháo xuất hiện và trong mỗi lần bán tháo cũng sẽ hình thành các tập hợp giá bao gồm đỉnh và đáy. Tuy nhiên, trái ngược với xu hướng tăng, xu hướng giảm sẽ hình thành các đỉnh sau luôn thấp hơn đỉnh trước, cùng đáy sau phải luôn thấp hơn đáy trước.

Xu thế chính là xu thế giảm sẽ tạo đỉnh sau thấp hơn đỉnh trước, đáy sau thấp hơn đáy trước.

Theo lý thuyết Dow, xu thế chính là xu hướng lớn nhất có thể kéo dài hàng năm trong khi đó xu thế phụ có thể chỉ kéo dài ba tuần đến ba tháng và thường luôn ngược lại với xu hướng chính. Cuối cùng, xu thế nhỏ thường kéo dài dưới ba tuần và có liên quan đến các chuyển động giá trong xu thế phụ.

Xu thế chính – xu thế cấp 1

Theo lý thuyết Dow, xu thế cấp 1 là xu thế quan trọng nhất để xác định thị trường, ảnh hưởng đến sự biến động giá cả cổ phiếu. Xu hướng chính cũng sẽ tác động đến các xu hướng phụ và xu thế nhỏ trong thị trường.

Dow xác định rằng một xu thế chính thường sẽ kéo dài từ một đến ba năm nhưng có thể thay đổi trong một số trường hợp. Và cho dù kéo dài trong bao lâu thì xu hướng chính vẫn có tác dụng cho đến khi có 1 xu hướng đảo ngược được xác nhận.

Ví dụ, đang ở trong xu hướng tăng, nếu giá đóng cửa tạo thành đỉnh thấp hơn so với đáy trước đó, đây có thể được xem là dấu hiệu cho thấy thị trường đang có chiều hướng giảm, chứ không thể tăng cao hơn được nữa.

Khi xem xét 1 xu hướng điều khó xác định nhất chính là biến động giá trong 1 xu hướng sẽ kéo dài bao lâu trước khi xu hướng đảo chiều.

Chú ý: Khi đã xác định được xu hướng phải giao dịch theo đúng xu hướng, không được phép chống lại xu hướng. Thường khi nói về xu thế cấp 1 nhiều nhà giao dịch cho rằng đó là xu thế tăng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp xu thế cấp 1 cũng có thể là xu thế giảm.

Xu thế phụ – xu thế cấp 2

Theo lý thuyết Dow, nếu xu hướng chính chỉ chuyển động theo 1 hướng nhất định thì xu thế phụ sẽ di chuyển theo hướng ngược lại với xu hướng chính.

Ví dụ: một xu hướng chính tăng sẽ bao gồm các xu hướng giảm thứ cấp đi kèm. Đây là sự dịch chuyển giá từ đỉnh cao hơn đến đáy thấp hơn. Ngược lại, nếu xu hướng giảm lại trở thành xu hướng chính thì lúc này các xu hướng thứ cấp sẽ là sự dịch chuyển từ đáy thấp hơn (LL) đến đáy cao hơn (HL)

Dưới đây là một minh họa về một xu thế cấp 2 trong một xu hướng tăng chính. Lưu ý cách các đỉnh (được hiển thị bằng các đường nằm ngang) không thể tạo ra các đỉnh cao hơn tiếp theo, cho thấy rằng có một xu hướng giảm ngắn hạn.

                                        Các đỉnh bắt đầu thấp dần đi.

Chú ý: xu thế cấp 1 không nhất thiết chỉ là xu thế tăng, tương tự xu thế cấp 2 không nhất thiết chỉ là xu thế giảm.

Xu thế nhỏ

Xu thế nhỏ theo lý thuyết Dow không kéo dài quá 3 tuần. Đây là xu hướng dùng để điều chỉnh hoặc có những biến động giá đi ngược lại với xu hướng 2.

Do tính chất ngắn hạn nên xu thế nhỏ không phải là mối quan tâm lớn đối với nhà giao dịch. Nhưng điều này không có nghĩa là bỏ qua chúng hoàn toàn; xu thế nhỏ vẫn phải được theo dõi vì những biến động giá ngắn hạn này cũng là một phần nằm trong xu hướng chính và phụ.

Hầu hết trader đều chỉ tập trung giao dịch theo xu hướng cấp 1, các xu hướng còn lại thường không rõ ràng hay bị nhiễu. Nếu quá tập trung vào các xu hướng nhỏ, nó có thể dẫn đến sai lầm, các nhà giao dịch bị phân tâm bởi biến động ngắn hạn và mất tầm nhìn tổng quát cho bức tranh thị trường lớn hơn.

Nguyên lý thứ 3: Ba giai đoạn của xu thế chính

Vì xu thế quan trọng nhất là xu thế chính, điều này dẫn đến nguyên lý thứ ba của lý thuyết Dow chính là xác định các giai đoạn nằm trong xu hướng tăng chính bao gồm: giai đoạn tích lũy (giai đoạn phân phối), giai đoạn bùng nổ và giai đoạn quá độ. Ngược lại, 3 xu hướng của thị trường giảm sẽ là giai đoạn phân phối, giai đoạn giảm mạnh và giai đoạn tuyệt vọng (panic phase).

XU HƯỚNG TĂNG CHÍNH (THỊ TRƯỜNG BÒ)

GIAI ĐOẠN TÍCH LŨY

Giai đoạn đầu tiên của một thị trường tăng giá được gọi là giai đoạn tích lũy, đó là sự khởi đầu của xu hướng tăng. Đây cũng được coi là điểm mà các nhà đầu tư tìm cách bắt đầu tham gia vào thị trường.

                          Giai đoạn tích lũy các đáy cao hơn bắt đầu được tạo ra

Giai đoạn tích lũy thường nằm ở cuối xu thế giảm, khi mọi thứ dường như đang trong thời kỳ tồi tệ nhất. Nhưng đây cũng là lúc giá của thị trường cực kỳ hấp dẫn vì vào thời điểm này, hầu hết các tin tức xấu đều đã tung ra, áp lực bán tan biến gần như không thể giảm thêm được nữa, nên sẽ không có rủi ro về việc giá giảm.

Tuy nhiên, giai đoạn tích lũy cũng là giai đoạn khó phát hiện nhất, nhà giao dịch khó lòng nhận biết được xu thế giảm đã thực sự kết thúc hay vẫn còn tiếp tục.

Giai đoạn bùng nổ

Khi các nhà đầu tư tham gia thị trường trong giai đoạn tích lũy, tức là họ bắt đầu tin rằng thời kỳ tồi tệ nhất đã qua và sự phục hồi đang tới.

Khi điều này trở thành hiện thực, tâm lý tiêu cực bắt đầu tan biến, điều kiện kinh doanh được đánh dấu bằng tăng trưởng thu nhập và dữ liệu kinh tế mạnh mẽ – được cải thiện. Lúc này, các tin tức lạc quan bắt đầu được tung ra, kéo nhiều nhà đầu tư quay trở lại, đẩy giá càng ngày càng tăng cao hơn.

Giai đoạn này không chỉ kéo dài nhất, mà còn là giai đoạn có biến động giá lớn nhất. Đó cũng là giai đoạn mà hầu hết các nhà giao dịch kỹ thuật và xu hướng bắt đầu nắm giữ các vị thế dài hạn và thu lợi nhuận.

Giai đoạn quá độ

Khi thị trường tăng quá mạnh, phe mua bắt đầu trở nên yếu thế, lúc này sẽ chuyển sang giai đoạn quá độ – giai đoạn cuối cùng trong xu hướng tăng, cũng là giai đoạn mà nhiều nhà đầu cơ tích lũy bắt đầu tìm cách thu hẹp vị thế, bán chúng cho những người tham gia vào thị trường. Tại thời điểm này thị trường, theo Alan Greenspan nói, có một “sự phấn khích phi lý”.

Đây cũng là giai đoạn mà người mua cuối cùng bắt đầu tham gia thị trường – sau khi đạt được lợi nhuận lớn. Giống như các con cừu dùng để giết thịt, những người tham gia muộn hy vọng rằng lợi nhuận vẫn sẽ tiếp tục sau khi đã bỏ lỡ nhiều cơ hội trước đó. Nhưng thật không may, họ đang”đu đỉnh” và cơ hội để thoát “hàng” thực sự khá mong manh.

Trong giai đoạn này, có rất nhiều dấu hiệu thể hiện sức mua giảm hay xu hướng đang dần trở nên yếu đi, và  cũng là dấu hiệu cho thấy xu thế trên đang nằm ở điểm bắt đầu cho một xu hướng giảm chính.

XU HƯỚNG GIẢM CHÍNH (THỊ TRƯỜNG GẤU)

GIAI ĐOẠN PHÂN PHỐI

Giai đoạn đầu tiên trong thị trường gấu được gọi là giai đoạn phân phối, giai đoạn mà người mua thông báo bán (phân phối) vị trí của họ. Điều này trái ngược với giai đoạn tích lũy trong một thị trường tăng giá ở chỗ, những người mua được thông báo đang bán trong một thị trường quá mua thay vì mua trong một thị trường quá bán.

Trong giai đoạn này, nhà giao dịch vẫn rất lạc quan về thị trường, kỳ vọng về mức độ thị trường tăng cao hơn. Đây cũng là giai đoạn mà các nhà đầu tư cuối cùng trên thị trường tiếp tục mua, đặc biệt là những người đã bỏ lỡ cơ hội trước đó đã tham gia và hy vọng sẽ có một bước tương tự trong tương lai gần.

Nhưng thật đáng tiếc, giai đoạn phân phối trong thị trường gấu (thị trường giảm) không thể nào giống như giai đoạn tích lũy của thị trường bò. Vì lẽ đó, 1 xu hướng giảm sẽ được xác nhận khi xu hướng trước đó không thế nào tạo ra được các đỉnh cao hơn (HH) cùng đáy thấp hơn (LL) thay vào đó chỉ có thể tạo ra các đáy cao hơn (HL) cùng các đỉnh thấp hơn.

Giai đoạn giảm mạnh

Tương tự như giai đoạn tăng mạnh trong thị trường bò, nhưng thay vì di chuyển theo hướng tăng, giai đoạn của thị trường gấu sẽ chỉ di chuyển theo 1 hướng duy nhất chính là GIẢM.

Trong giai đoạn này, điều kiện kinh doanh trên thị trường càng ngày càng tồi tệ và tâm lý nhà giao dịch cũng trở nên tiêu cực hơn. Thị trường tiếp tục giảm giá với áp lực bán ngày càng tăng mạnh trong khi đó xu hướng mua gần như cạn kiệt.

Giai đoạn tuyệt vọng

Giai đoạn cuối cùng của thị trường giảm chứa đầy sự hoảng loạn và rất dễ dẫn đến việc bán tháo trong một khoảng thời gian ngắn. Trong giai đoạn này,  thị trường chỉ toàn màu xám xịt nhà giao dịch có tâm lý tiêu cực với những hy vọng mong manh về  công ty, nền kinh tế và thị trường nói chung.

Bạn sẽ thấy nhiều nhà đầu tư bán tháo cổ phần của họ trong hoảng loạn. Thông thường những người này đều là những người mới tham gia thị trường trong giai đoạn quá độ của lần tăng giá trước đó.

Nhưng khi mọi thứ (có vẻ) tồi tệ nhất lại chính là lúc giai đoạn tích lũy của một xu hướng tăng chuẩn bị bắt đầu và cứ như thế chu kỳ được lặp lại liên tục qua năm này tới năm khác, qua thế kỷ này tới thế kỷ khác.

Nguyên lý 4: Chỉ số bình quân phải xác nhận lẫn nhau

Trong lý thuyết Dow, việc đảo chiều từ thị trường bò (thị trường tăng) sang thị trường gấu (thị trường giảm) không thế nào được xác nhận nếu không có sự xác nhận từ 2 chỉ số (theo truyền thống là Chỉ số trung bình công nghiệp và đường sắt).

Điều này có nghĩa là các tín hiệu xảy ra trên biểu đồ của chỉ số này phải khớp hoặc tương ứng với các tín hiệu xảy ra trên biểu đồ của chỉ số khác.

Ví dụ: nếu chỉ số như Trung bình công nghiệp Dow Jones xác nhận 1 xu hướng giá tăng mới, nhưng chỉ số Trung bình vận tải Dow Jones vẫn nằm trong xu hướng giá giảm, như vậy không thể nào xác nhận được xu thể tăng có thể xảy ra.

Nguyên lý 5: Khối lượng giao dịch là điều kiện dùng để xác nhận xu hướng

Theo lý thuyết của Dow, các tín hiệu để mua và bán dựa trên biến động giá. Chính vì thế, khối lượng cũng được sử dụng như một chỉ báo để giúp xác nhận những gì thị trường đang gợi ý cho nhà giao dịch.

Từ nguyên lý này cho thấy, trong 1 xu hướng giá tăng khối lượng sẽ tăng theo khi giá di chuyển theo đúng xu hướng và giảm khi giá di chuyển theo hướng ngược lại. Ví dụ, trong một xu hướng tăng, khối lượng sẽ tăng khi giá tăng và giảm khi giá giảm.

Như vậy trong trường hợp khối lượng chạy ngược với xu hướng (giá tăng nhưng khối lượng giảm, giá giảm nhưng khối lượng giao dịch tăng) đó là dấu hiệu của sự yếu kém trong xu hướng hiện tại và có thể sẽ có sự đảo chiều xu hướng trong thời gian tới.

Nguyên lý 6: Xu hướng được duy trì cho đến khi dấu hiệu đảo chiều xuất hiện

Việc xác định xu hướng là để cho chúng ta không giao dịch ngược hoặc chống lại xu hướng. Theo lý thuyết Dow, nguyên lý thứ sáu cũng là nguyên lý cuối cùng này tin rằng một xu hướng vẫn có hiệu lực cho đến khi xuất hiện nhiều dấu hiệu cho thấy nó đã bị đảo chiều.

Nhà giao dịch cần kiên nhẫn chờ đợi 1 bức tranh rõ ràng về việc đảo ngược xu hướng bởi vì như ở nguyên lý thứ 2 chúng ta biết rằng thị trường sẽ có nhiều xu hướng nhỏ (minor), xu hướng thứ cấp nên rất dễ gây nhầm lẫn đó thực sự là xu hướng chính hay chỉ là sự điều chỉnh xu hướng.

7. Các lưu ý về lý thuyết Dow

Lý thuyết Dow vẫn có 1 số hạn chế nhất định như nó khá trễ và không phải lúc nào cũng đúng hoàn toàn nhất là với những giao dịch ngắn hạn, do sự ảnh hưởng của tâm lý đám đông cùng sự phát triển của internet.

Hơn nữa, thị trường giao dịch hiện tại theo các khung phút và giây chứ không giao dịch theo ngày như thị trường chứng khoán trước đó, vì lẽ đó thị trường sẽ bị nhiễu nhiều hơn thông tin sẽ kém chính xác hơn.

Tuy nhiên, lý thuyết Dow thực sự rất quan trọng nếu bạn muốn trở thành 1 nhà giao dịch ngoại hối thành công. Việc đọc và hiểu toàn bộ nguyên lý sẽ giúp bạn hiểu thêm các chỉ báo phân tích kỹ thuật trong thị trường tài chính nói chung và forex nói riêng.

Theo dõi website của chúng tôi thường xuyên để cập nhật những bài học hữu ích nhất về kiến thức Trading cũng như thông tin mới nhất từ các sàn forex nhé !

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây